Asaba Sakitaro 浅羽 佐喜太郎 (Thiển Vũ Tá Hỷ Thái Lang) sinh ngày 1 tháng 2 năm 1867 – ngày 25 tháng 9 năm 1910. Ông là một bác sĩ tốt bụng, xuất thân tỉnh Shizuoka miền trung nước Nhật. Ông có gia thế rất giàu có, thân phụ là giám đốc ngân hàng Shiba ở Tokyo và là dòng dõi thần quan trong đền thần đạo Hachiman. Tuy nhiên, ông về một làng chài mở phòng khám để chữa bệnh cho dân nghèo.
Năm 1908, chính phủ Nhật và Pháp hiệp ước, đoàn du học sinh Đông Du sắp bị trục xuất và lâm cảnh khó khăn tột bậc. Khi ấy, có anh Nguyễn Thái Bạt là sinh viên du học trong phong trào, phải đi ăn xin để sống. May mắn, anh gặp bác sĩ Asaba cứu giúp. Khi anh Nguyễn Thái Bạt gặp lại cụ Phan Bội Châu, mới đề nghị cụ Phan thử viết thư nhờ bác sĩ Asaba tương trợ. Buổi sáng cụ Phan viết thư, Thái Bạt cầm đi. Buổi chiều thư đã về tới, trong thư là một bức thư kèm số tiền 1.700 yen (tương đương với khoảng 3.000.000 yen bây giờ). Bức thư nội dung rất khẳng khái: Nhặt nhạnh trong nhà, khi cần xin hãy viết thư tới, sẽ có ngay.
Nhờ số tiền này mà Phan Bội Châu và đoàn du học sinh vượt qua giai đoạn khó khăn và tiếp tục hoạt động kháng Pháp bằng nhiều cách khác nhau.
Sau đó năm 1909 Phan Bội Châu phải rời Nhật, ông có đến chào tạm biệt bác sĩ Asaba. Khi gặp Phan Bội Châu, bác sĩ Asaba liền cầm tay kéo vào nhà cùng uống rượu, không hề khách sáo.
Đến năm 1918, Phan Bội Châu quay lại Nhật thì bác sĩ Asaba đã qua đời. Thương tiếc cố nhân, Phan Bội Châu đã cùng dân làng tạc một bia đá lớn dựng tại ngôi chùa Jorin trong làng đó để tưởng niệm.
Cùng ôn lại lịch sử với AFJ và có một kỳ làm việc đầy năng lượng nhé các bạn!
Cho tới hiện đại, dựa vào thư tịch thì chúng ta biết rằng người Nhật đã từng đặt chân trên dải đất hình chữ S của đất nước Việt Nam từ thời Nara, cách nay khoảng 1300 năm. Đó là cả một câu chuyện dài.
Cụ thể, vào tháng 8 năm 732, ông Hegurino Hironari 平群 広成(?-753) được Thánh Vũ thiên hoàng 聖武天皇 (701-756) sai đi sứ nhà Đường bên China. Đoàn sứ này có cả thảy 4 thuyền lớn do 4 người dẫn đầu. Tháng 4 năm 733 đoàn thuyền đi sứ bắt đầu xuất phát ở cảng Naniwatsu 難波津, một vị trí chưa xác định nhưng biết rằng nằm trong vịnh Osaka ngày nay.
Mô hình thuyền đi sứ sang nhà Đường được phục dựng theo tư liệu và tranh vẽ
Khi này nhà Đường có một số xung đột trên biển với vương quốc Bột Hải (nằm ở vùng cực bắc Triều Tiên và một phần China ngày nay), tuy nhiên cuối cùng đoàn sứ Nhật Bản đã vô sự tới được kinh đô nhà Đường và dâng tặng vật phẩm để giao hảo. Tài liệu Sách Phủ Nguyên Quy của China chép: 開元22年4月日本国遣使来朝、美嚢絁二百匹、水織絁二百匹を献ず。 – Năm Khai Nguyên thứ 22 tháng Tư, sứ thần người Nhật Bản đến triều, tặng 200 cuộn vải gai Mỹ Nang cùng 200 cuộn vải Thủy Chức. (Hai loại vải thời cổ đại của Nhật, hiện tại đã thất truyền)
Sau khi triều cống, đoàn sứ cũng đi giao lưu với các du học tăng và người Nhật đang cư ngụ ở China thời bấy giờ. Đến tháng 10 cùng năm thì xuống thuyền về nước. Chẳng may, cả đoàn thuyền đều gặp bão lớn trôi dạt mỗi thuyền một nơi. Một thuyền trôi tới Tanegashima là một đảo ở vùng Kyushu cực nam nước Nhật, hai thuyền trôi tới Phúc Kiến. Còn thuyền còn lại do Hegurino Hironari dẫn đầu đã trôi rất xa về phía nam và cặp bến vào một vùng đất mà người dân có da màu ngăm đen, gọi là Côn Luân Quốc 崑崙国. Trên thuyền lúc ấy có cả thảy 115 người đều sống sót.
Phế tích của kinh đô Côn Luân Quốc ở Quảng Nam
Tuy nhiên, khi bị vệ binh của nước này bắt thì đoàn người Nhật Bản đã chống cự và vừa chết vừa chạy mất chỉ còn sót lại 90 người. Thế nhưng có thêm một điều không may cho người Nhật là họ không quen với khí hậu nhiệt đới và gần như tất cả đã chết vì bệnh sốt rét, chỉ còn sót lại 3 người thủy thủ và Hegurino Hironari. Sau đó các ông này bị áp giải đến kinh đô của nước này là thành Simhapura để bái kiến vua. Tới đây, thì có thể dựa vào tư liệu để xác định được thành này chính là kinh đô của vương quốc Champa, và có vị trí hiện nay là làng Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam nước ta. Thêm một dữ kiện khác khá vững chắc để xác định nước Côn Luân chính là Champa, đó là trong Toàn Đường Thư quyển số 287, thừa tướng nhà Đường là Trương Cửu Linh cũng có ghi chép lại việc này và gọi nước này là Lâm Ấp Quốc林邑国 – Lâm Ấp chính là cách mà người nhà Đường gọi Champa vậy.
Hegurino Hironari và các thủy thủ người Nhật bị giam lỏng cho đến năm 735 thì nhờ cậy các thương nhân người Champa đưa sang Khâm Châu của nhà Đường. Vì tại thời điểm này, tung tích chiếc thuyền của Hegurino Hironari đang được truy tìm khắp nơi, và việc các ông đang ở Champa có lẽ các thương nhân đi lại giữa Champa và nhà Đường đã hiểu ra cớ sự.
Kinh thành Trường An ngày nay
Từ Khâm Châu, các ông được giúp gởi đến kinh đô Trường An của nhà Đường rồi tìm cách về lại Nhật Bản. Tuy nhiên, mãi tới năm 738 thì mới có cơ hội về nước bằng đường biển.
Những năm này, nước ta đang bị nhà Đường đô hộ, nhưng biên giới thì vẫn chỉ đi khỏi vùng Thanh Nghệ Tĩnh. Và các anh hùng dân tộc nước mình thời này là các ngài Mai Hắc Đế Mai Thúc Loan (?-722) và Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (?-791).
Vùng đất từ miền Trung trở vào Nam thì rất ít tư liệu vì khi này người Phù Nam và Lâm Ấp làm chủ. Ấy vậy mà việc giao lưu Nhật Việt lại bắt đầu ở miền Trung, và chúng ta biết được một vài chi tiết nhỏ về mảnh đất miền Trung của mình khi đó, quả là thú vị các bạn nhỉ?
Môn Sumo là một hình thức vật nhau giữa hai lực sĩ trong một vòng tròn đường kính 4.55 mét. Người nào bị ngã hoặc bị đẩy ra khỏi vòng tròn là thua cuộc. Đối với người Nhật, sumo không chỉ là thể thao, môn này được coi là quốc kỹ, là võ đạo, là một hình thức dâng cúng thần linh và cũng bao gồm luôn ý nghĩa vui chơi hội hè.
Tên gọi
Theo sách cổ sử Nhật Bản Thư Kỷ, từ thời đại của thần thoại thì đã có môn sumo, khi đó gọi là sumahi với một số cách viết khác nhau như 角力, 捔力, 角觝…với ý nghĩa là “so sánh sức mạnh”. Ngoài ra còn có cách gọi khác là tegoi 手乞 với hàm ý là hai người dùng tay phân định thắng thua.
Những cách gọi cổ này vẫn tồn tại và thậm chí thịnh hành cho tới thời Edo vào thế kỷ XIX. Đối với những người được coi là có tư cách sumo, thì danh xưng chính thức của họ là Rikishi 力士nghĩa là lực sĩ, hoặc là Sumotori 相撲取り – người có tư cách sumo, hoặc thân thiết hơn là Osumosan お相撲さん – ông sumo.
Từ thời Meiji, cách gọi môn thể thao này là sumo trở nên phổ biến, và hai chữ sumou 相撲 cũng được dùng chính thức cho đến ngày nay.
Trận đấu đầu tiên
Ban đầu, sumo chỉ thuần túy là shinji 神事 – hoạt động cúng tế diễn ra trong khuôn viên các thần cung và thần xã lớn. Nghĩa là người xưa dùng môn võ vật này để vật cho thần linh xem và các thiên hoàng cùng quý tộc được coi ké mà thôi.
Trận đấu sumo cổ nhất được lịch sử ghi lại là trận đấu vào ngày 7 tháng 7 năm thứ 7 đời Thụy Nhân thiên hoàng, tức năm 23 trước Công nguyên. Trận đấu lịch sử này cũng được xem là nguồn gốc nguyên thủy của môn Judo. Đây là trận đấu giữa Nominosukune 野見宿禰 và Taimanokehaya 当麻蹴速 là hai lực sĩ nổi tiếng đương thời. Khi ấy Taimanokehaya ở nước Yamato (vùng Nara ngày nay) thường cậy mình có sức mạnh hơn người, nên đi khắp nơi tìm đối thủ để đánh sinh tử. Thiên hoàng Thụy Nhân đang ở nước Izumono (vùng Shimane ngày nay) đã cho đệ nhất dũng sĩ sumahi Nominosukune ra khiêu chiến.
Tranh vẽ mô tả trận đấu Sumo đầu tiên
Kết cục, Nominosukune đã bẻ gãy xương sống đồng thời đá gãy xương sườn của Taimanokehaya, làm cho tay lực sĩ phách lối này bị chết thẳng cẳng. Kỹ thuật đá này của Nominosukune còn tồn tại tới ngày nay, gọi là Keriwaza 蹴り技.
Sau trận đấu này, võ công sumahi chuyên cúng thần được công nhận là có thế thực chiến. Và hai ông lực sĩ Nominosukune và Taimanokehaya cũng được đời sau phong là thủy tổ của võ sumo.
Cứ như thế, dần dần các quy luật trong đấu vật sumo được xây dựng chặt chẽ hơn, và những nghi thức trước khi bắt đầu vào trận đấu cũng được giữ nguyên. Sumo bây giờ vừa là môn võ cúng thần vừa là môn thể thao cho đại chúng thưởng lãm.
Bạn đã từng đi xem sumo chưa? Chia sẻ cảm tưởng với AFJ nhé! Hoặc đặt tour tại AFJ để có cơ hội xem Sumo tận mắt vào các mùa giải.
Đây là ngôi đền rất nổi tiếng trong nội ô thủ đô Tokyo của Nhật. Nó nổi tiếng không phải vì là di tích ngàn năm hay phong cảnh đặc sắc, mà vì mỗi lần thủ tướng Nhật tới đây viếng thì lập tức các nước Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc lên tiếng phản đối gay gắt, mà có lẽ các bạn khi ở trong nước chắc cũng có đôi lần nhìn thấy trên tivi. Vì sao lại như vậy?
Trước hết, thì đền này ban đầu có tên là Đông Kinh Chiêu Hồn xã (東京招魂社, Tōkyō Shōkonsha) được xây dựng vào tháng 6 năm 1869 theo yêu cầu của Thiên hoàng Minh Trị. Ngôi đền này khi đó được dùng để thờ cúng những người đã hy sinh cho công cuộc Duy Tân và lật đổ chế độ Mạc Phủ. Mười năm sau, tứ năm 1879, ngôi đền được đổi tên thành Yasukuni như hiện tại, với chữ Kanji là 靖国神社 – Tĩnh Quốc thần xã. Nơi này trở thành nơi thờ cúng tất cả những người hy sinh vì nước Nhật trong chiến sự.
Hiện tại, có 2.466.532 người được ghi tên vào sổ thờ cúng ở Đền này, trong đó có 27.863 người Đài Loan và 21.181 người Triều Tiên. Điều kiện để được ghi tên vào sổ thờ cúng ở đền này như sau:
– các quân nhân hoặc công dân đã hi sinh trong chiến sự, bị mất tích hoặc bị đối phương tử hình – công dân, viên chức bị Nga bắt và chết trong trại cải tạo thời chiến tranh Nga – Nhật – dân công, quân y, giao liên, thủy thủ, công nhân… cho các tổ chức dân sự thiện nguyện quốc tế trong khi làm nhiệm vụ – các học sinh Okinawa tử nạn trong vụ đắm tàu Tsushima Maru – …
Những người chết kể từ năm 1951 trở về sau thì không còn được đưa vào thờ cúng ở đây nữa, kể cả các quân nhân Nhật Bản hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ từ đó đến nay.
Truyền thống thờ cúng người có công với đất nước có lẽ không lạ lẫm gì với người Đông Á, và đó còn được coi là điều nên làm. Tuy nhiên, khi các thần quan quản trị ngôi đền đưa thêm 14 người bị Tòa Án Quân Sự Viễn Đông phán xét là “tội phạm chiến tranh loại A” vào thờ trong đền thì cuộc tranh cãi kịch liệt đã xảy ra. Đây là những người đứng đầu quân đội hoàng gia Nhật Bản trong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ II.
Ban đầu, vào năm 1969, các quan chức chính phủ đã họp và thống nhất cho phép các thần quan trong đền Yasukuni thờ cúng 14 người này trong âm thầm. Tuy nhiên sự vụ đã bị dư luận ở các nước từng bị Nhật đánh chiếm trước đây phát hiện năm 1979 và cuộc tranh cãi đã kéo dài từ đó đến nay. Một mặt họ phản đối việc thờ cúng 14 người này trong đền Yasukuni, một ngôi đền có tính biểu tượng quốc gia rất cao của Nhật, một mặt họ kháng nghị gay gắt chuyện quan chức chính phủ Nhật đi viếng đền với tư cách đại diện chính quyền.
Cựu thủ tướng Koizumi thăm đền Yasukuni năm 2006
Đây chính là lý do mà đền Yasukuni trở nên đặc biệt trong truyền thông đại chúng ở những nước khác. Đúng là vấn đề khá tế nhị. Nhưng may là chúng ta là người thường nên có thể đi tham quan nơi này mà không sợ bị ai phản đối các bạn nhỉ?
Liên lạc đặt tour với AFJ để tận mắt tham quan ngôi đền này bạn nhé!
Các bạn khi học tiếng Nhật sơ cấp bằng sách Minna no Nihongo, chắc là còn nhớ có bài lấy hình chùa ở Asakusa làm hình minh họa với một cái lồng đèn lớn trước cửa.
Ngôi chùa đó gọi là chùa Sensouji – âm Hán Việt đọc là Thiển Thảo Tự. Chữ Sensou là âm Hán Nhật, sau đó được người Nhật đọc thành âm thuần Nhật là Asakusa. Chữ Asakusa về sau trở thành địa danh của cả vùng xung quanh ngôi chùa.
Chùa Sensou thờ Quan Âm Bồ Tát, là ngôi chùa cổ xưa nhất của thành phố Tokyo nhộn nhịp. Chùa Sensou cũng nằm trong nhóm 33 linh địa Quan Âm của thời Edo và nằm ở vị trí số 13.
Tương truyền, vào đời nữ thiên hoàng Suiko (554-628 SCN), có hai anh em tên là Hinokuma Hamanari 檜前浜成 và Hinokuma Takenari 檜前竹成 trong lúc đánh cá dưới sông Miyako 宮戸川 (bây giờ là sông Sumida 隅田川) đã kéo lưới lên dính một pho tượng lạ. Khi đem pho tượng về cho chủ nhân của họ là ông Hajino Nakatomo 土師中知, ông đã bái lạy pho tượng này rồi nói đó là tượng Quan Âm. Sau đó ông Hajino Nakatomo đã xuất gia tu hành và hiến ngôi nhà của mình thành chùa để cúng dường Quan Âm Bồ Tát. Sau đó nhiều năm, có những nhà sư khác cũng nằm mơ thấy bức tượng bí mật này và đem lòng sùng bái, dần dần biến nơi này thành một trong những ngôi chùa linh thiêng và nổi tiếng. Chùa cũng gặp nhiều lần thăng trầm và di dời, nhưng cuối cùng phát triển rất thịnh vượng dưới thời Edo. Đến thời Meiji, khuôn viên chùa bị thu hẹp lại nhiều để làm khu mua bán và ca vũ kịch và công viên. Sau đó, trong trận động đất lớn năm 1923, khu vực chùa lại bị tàn phá nặng nề.
Trước đệ nhị thế chiến, chùa Sensou thuộc về Thiên Thai Tông. Nhưng kể từ sau khi chiến tranh kết thúc, chùa bị hoang phế do các phần chính của đại điện và ngũ trùng tháp đã bị phá hủy vì chiến sự. Thêm vào đó, do đô thị Tokyo phát triển quá sầm uất và nhộn nhịp, không còn là nơi tu hành yên tĩnh nữa, nên ngôi chùa đã hoang tàn. May thay, khi họp bàn quảng bá du lịch cho các khu thương mại cổ truyền, người ta đã thấy cần phải trùng tu và tôn tạo chùa Sensou cho có dáng dấp như ngày hôm nay và trở thành một địa chỉ để tham quan.
Quả là một ngôi chùa có nhiều thăng trầm biến cố!
Riêng với bức tượng Quan Âm cổ xưa, có người nói hiện tại đang được thờ ở chùa Iwaidou ở thành phố Hannou tỉnh Saitama; có thuyết khác lại nói bức tượng đã được thả trở lại dòng sông vì thời thế điên đảo.
Ngày nay nếu có dịp cũng nên đi thăm khu phố Asakusa và chùa Sensou này cho bết các bạn nhỉ?