Nhật Bản có 47 tỉnh thành. Dựa vào yếu tố địa lý và lịch sử, các tỉnh thành này được chia thành chín vùng bao gồm: Hokkaido, Tohoku, Kanto, Chubu, Kinki, Chugoku, Shikoku, Kyushu và Okinawa.
Mỗi vùng đều có tiếng địa phương, phong tục và văn hóa truyền thống đặc trưng khác nhau.
Núi non chiếm trên 70% lãnh thổ Nhật Bản. Vì vậy các thành phố lớn thường tập trung ở những vùng đồng bằng, chiếm dưới 30% phần lãnh thổ còn lại.
TOKYO là thủ đô của Nhật Bản, và là trung tâm chính trị từ năm 1603, và cũng là trung tâm kinh tế và thông tin. Ở trung tâm thành phố là cung điện hoàng gia, ngày trước là lâu đài Edo.
Hoàng hôn ở Tokyo
Xung quanh khu vực Hoàng cung là tòa nhà Quốc hội, các Bộ và trung tâm thương mại. Có khoảng 13 triệu dân, tức khoảng 1/10 dân số Nhật Bản đang sống tại vùng Tokyo có diện tích 2.188km2 (theo thống kê tháng 7 năm 2012).
Cấu thành dân số sản nghiệp như sau: sản nghiệp thứ nhất (nông lâm ngư khoáng nghiệp) 0,1%; sản nghiệp thứ hai (gia công những nguyên tài liệu do sản nghiệp rhứ nhất sinh sản) 18,6%; sản nghiệp thứ ba (sản nghiệp còn lại, như cung cấp điện nước khí đốt, công nghiệp thông tín, giao thông vận tải v.v.) 81,3%.
Tokyo là nơi chứng kiến đoàn chiến hạm đen của tướng Perry (Mỹ) đến năm 1853, bị đạn đại bác của chiến hạm này uy hiếp đòi mở cảng, nhưng cũng nhờ đó mà NB mới mở mắt, bắt đầu cho cuộc cách mạng Minh Trị Duy Tân.
Tokyo cũng đã bị oanh tạc 106 lần trong cuộc chiến thế giới thứ hai, lớn nhất là lần tháng 3 năm 1945 (được gọi là Đại không tập Tokyo), hơn 100,000 người bị thiệt mạng.
Tokyo là nơi tổ chức thế vận hội Mùa hè vào năm 1964, là kỳ thế vận hội đầu tiên được tổ chức tại Châu Á.
Cũng từ thời kỳ Thế vận hội này, nghành xây dựng được phát triển mạnh. Người ta đổ dồn về sinh sống, làm việc ở Tokyo. Đưa vật giá, đất giá Tokyo lên rất cao.
Hiện nay, hầu hết xí nghiệp chế tạo đều đặt hảng chính ở Tokyo. Theo đó, GNP của Tokyo lên hơn 85,000 tỉ Yên (khoảng 1.000 tỉ đô la Mỹ).
OSAKA: Từ khi được thành lập vào thế kỷ thứ 7, Osaka là vùng thương mại với nước ngoài, đồng thời là khu vực lớn thứ 2 ở Nhật Bản sau Tokyo. Thành phố nổi tiếng với những món ăn ngon, hài kịch và vào năm 1970 là nơi đầu tiên ở Châu Á đăng cai triển lãm Hội chợ Quốc tế EXPO. Năm 1994 sân bay quốc tế Kansai được khánh thành trên hòn đảo nhân tạo ở vịnh Osaka, và đây cũng là cửa ngõ lớn đón khách nước ngoài đến với Nhật Bản.
Thành cổ Osaka nằm giữa thành phố đô hội
NAGOYA là thành phố lớn nhất ở vùng Chubu. Các vùng xung quanh thành phố này phát triển mạnh ngành công nghiệp chế tạo xe hơi và các ngành công nghiệp khác. Biểu tượng của thành phố này là thành Nagoya, được xây từ năm 1612 bởi Tokugawa Ieyasu là tướng quân đầu tiên dưới thời Edo, chế độ đã cai trị Nhật Bản trong suốt 270 năm. Thành này nổi tiếng với 2 bức tượng bằng vàng shachihoko được dựng trên mái (là một động vật tưởng tượng ở biển, có thân là cá và đầu là hổ).
Tượng Sachihoko trên nóc thànhThành cổ Nagoya
FUKUOKA: là thành phố lớn nhất ở Kyushu. Trung tâm giao thương giữa Nhật Bản và các nước Châu Á. Quê hương của nhiều món ăn nổi tiếng như mizutaki (món lẩu gà) và mì ramen. Các dãy phố ẩm thực dọc theo hai bên bờ sông là một trong những nét đẹp quyến rũ của thành phố.
Cảnh thành phố Fukuoka về đêm
NAHA: là thành phố lớn nhất ở Okinawa, một tỉnh ở cực tây nam của Nhật Bản. Okinawa nằm ở phía tây nam của Kyushu với 160 hòn đảo lớn nhỏ. Okinawa nằm trong vùng nhiệt đới, có những thắng cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và khí hậu rất ấm áp. Các bãi biển xanh ngắt bao quanh Okinawa biến hòn đảo này thành một trong những nơi đẹp nhất thế giới, thích hợp với bơi lặn và thám hiểm đáy đại dương.
Biển Okinawa
HIROSHIMA: Vào năm 1945 Hiroshima là thành phố đầu tiên trên thế giới hứng chịu sự tàn phá của bom nguyên tử. Nhưng hiện nay phát triển thành một trong những thành phố lớn của Nhật Bản. Miyajima là một hòn đảo gần Hiroshima, nơi có đền thờ Itsukushima, nổi tiếng với kỳ quan Torii (cổng đền) đứng sừng sửng ngoài eo biển cách bờ 200m. Đền Itsukushima được công nhận là Di sản thế giới.
Đền Itsukushima
SAPPORO: là thành phố lớn nhất ở Hokkaido. Không giống như những thành phố lớn ở vùng Honshu đã được xây dựng dần dần trong nhiều năm, Sapporo được xây theo thiết kế vào cuối thế kỷ 19 với các tuyến đường trải dài theo một trật tự nhất định. Sapporo là nơi thu hút nhiều khách du lịch đến để ngắm cảnh đẹp thiên nhiên vùng Hokkaido vào mùa hè, trượt tuyết vào mùa đông. Hai biểu tượng của thành phố là Công viên Odori và tháp truyền hình Sapporo. Công viên này là nơi tổ chức Lễ hội Tuyết Sapporo tháng 2 hàng năm.
KYOTO:Từng là thủ đô của Nhật Bản vào cuối thế kỷ thứ 8, có lịch sử phát triển hơn 1200 năm, nổi tiếng với những ngôi chùa cổ kính và những khu vườn xinh đẹp. UNESCO đã công nhận mười bảy chùa, đền và lâu đài tại các thành phố Kyoto, Uji và Otsu là Di sản thế giới năm 1994.
Sushi (すし, 寿司, 鮨, 鮓, 寿斗, 寿し, 壽司?) là một món ăn Nhật Bản gồm cơm trộn giấm (shari) kết hợp với các nguyên liệu khác (neta). Neta và hình thức trình bày sushi rất đa dạng, nhưng nguyên liệu chính mà tất cả các loại sushi đều có là shari. Neta phổ biến nhất là hải sản, thịt sống cắt lát, gọi riêng là sashimi.
Trước cuộc Duy Tân năm 1868, người Nhật theo quan điểm Phật giáo, không ăn loài bốn chân nhưng chỉ ăn cá và gà… Chính vì cá là thực phẩm chính, nên cách làm có thiên biến vạn hóa. Vào thời đại Heian, trong sách Diên Hỉ Thức (xuất bản năm 927 SCN) đã có nói về món Narezushi là cá ướp muối trộn cơm cho lên men. Trải qua ngàn năm, văn hóa trau dồi, cách ăn nết ở cũng đổi thay, cách làm sushi và cách ăn sashimi cũng theo đó mà biến chuyển thêm nhiều thể thức như ngày hôm nay, muối được thay bằng giấm, lên men được thay bằng ăn tươi chấm nước tương và wasabi.
Naresushi ngày nay
Tên gọi sushi cũng có thuyết nói rằng, vào thời đại Giang Hộ, vị của món ăn này gần giống giấm 酸し (sushi) nên tên gọi đã hình thành từ đó. Đây là thuyết được chấp nhận rộng rãi tới ngày hôm nay. Cách viết 寿司 là để biểu âm chứ không có ý nghĩa.
Phân loại
Có nhiều loại sushi, tùy theo cách chế biến. Phần cơm trộn giấm gọi là sumeshi, phần thịt cá để bên trên gọi là neta.
Loại thứ nhất là sushi nắm, gọi là nigirizushi. Cơm sumeshi được đắp lên bằng một miếng Neta. Ở giữa thường có một chút wasabi. Phía trên miếng neta có thể có một chút gừng xay nhuyễn hoặc vài hạt hành xanh bào nhỏ. Loại này phổ biến nhất.
Loại thứ hai là sushi cuộn, gọi là makizushi được cuốn như các đồ ăn cuốn của Việt Nam, nhưng bên ngoài là lớp rong biển nori sấy khô; được tẩm muối và dầu mè.Thành phần bao gồm cơm, dầu vừng, muối, hạt vừng, một lượng nhỏ giấm và đường thường được thêm vào làm gia vị. Nguyên liệu được đặt trên một miếng rong biển khô. Cơm trộn giấm chua ngọt được phết lên miếng rong biển. Các thành phần khác như hải sản tươi sống, trứng chiên, cà-rốt, giăm-bông, thịt bò băm viên tẩm gia vị hoặc bánh cá (loại bánh làm từ cá và rau quả, phổ biến nhất là khoai tây) tẩm gia vị, củ cải ngâm, rau bina tẩm gia vị,cá ngừ,tôm hấp và dưa leo được đặt lên cơm, sau đó cuộn lại. Có lúc, người ta còn cho cuộn makizushi lăn qua trứng, bột chiên xù cho giòn, gọi là Tempura Makizushi. Khi ăn chấm nước tương, cũng có thể là mayonnaise hay nước sốt cà chua. Makizushi xưa được cắt đều làm 6 khoanh, ngày nay người ta có thể được cắt thành 12 khoanh hoặc hơn.
Loại thứ ba là sushi gói như bánh, gọi là oshisushi.
Loại thứ tư là sushi lên men, gọi là narezushi. Sushi ủ trong một thời gian dài cho lên men.
Loại thứ năm là sushi rán, gọi là inarizushi.
Loại cuối cùng là temaki, cuốn như hình nón.
Mỗi địa phương ở Nhật Bản lại có những nét riêng trong chế biến sushi. Có loại sushi không được làm từ hải sản và cũng không có sumeshi, mà lại là trứng trộn đường rán lên. Có loại sushi cuộn mà bên trong có natto, một loại đậu tương ủ lên men nổi tiếng của Nhật Bản.
Sushi thường được chấm với wasabi hoặc nước tương rồi thưởng thức.
Sushi băng chuyền
Đây là hình thức quán sushi chưa lâu đời nhưng lại được sự yêu mến của người Nhật rất nhiều. Vì thể loại sushi phong phú, giá cả phải chăng và nhanh chóng mà không cần phiền nhiều đến nhân viên phục vụ.
Quang cảnh trong một quán sushi băng chuyền
Thực khách thích ăn gì có thể tự lấy, trường hợp không có món mình muốn ăn có thể đặt qua màn hình. Nhưng cần lưu ý là khi đã lấy một đĩa sushi ra khỏi băng thì sẽ không được để trả lại vào. Người Nhật thích kaitensushi vì giá cả thường rẻ. Người nước ngoài thích kaitensushi còn vì có thể lựa chọn được thứ mình thích mà không cần biết tiếng Nhật.
Mùa xuân người Nhật cũng có tục lệ đi đến đền thần và chùa để cầu nguyện như người Việt. Riêng những nơi nổi tiếng thì luôn có khách tham bái quanh năm. Cách người Nhật cầu nguyện khá đơn giản nhanh chóng và rất khác biệt với người Việt. Mời bạn đọc bài này để thấy thêm về một nét văn hóa của Nhật Bản nhé. —–
Đền thần Shinto và chùa Phật ở Nhật Bản là một trong những điểm du lịch tham quan thu hút rất đông khách nước ngoài. Những đền thần nằm trên núi với phong cảnh đẹp tuyệt vào mỗi mùa khác nhau, những ngôi chùa kết hợp hài hòa giữa kiến trúc sắc sảo và những khu vườn theo kiểu truyền thống, tất cả đều chứa đựng đầy những thứ tuyệt vời đáng để tham quan. Và cũng có những nơi mà người dân Nhật Bản đã thờ từ rất lâu đời. Rất đáng để bỏ ra một ít thời gian học cách cầu nguyện cho đúng và tận hưởng chuyến tham quan bất ngờ đến những điểm du lịch tuyệt vời này.
Đầu tiên, hãy tìm hiểu sự khác biệt giữa đền thần và chùa. Đền thần được xây để phục vụ tín ngưỡng đạo Shinto và được nhận diện bằng cổng Torii ở lối vào. Chùa được xây dưng để phục vụ tín ngưỡng đạo Phật và mỗi chùa có một cổng Sanmon ở mỗi lối vào. Các cổng Sanmon lớn ở các chùa như Chùa Todai-ji ở Nara hay chùa Senso-ji ở Tokyo có vòm cổng cực kỳ ấn tượng và các tượng thần gác cửa rất oai vệ (gọi là Niozo) khắc trên cột.
Đền thần Itsukushima
Đền thần
1. Đi qua cổng Torii
Tất cả đền thần, thậm chí cả những đền thần không có gian thờ chính đều có cổng Torii. Cổng Torii là ranh giới chia cắt giữa thế giới trần tục và thế giới tâm linh. Đi qua cổng Torii đồng nghĩa với việc bạn đã đặt chân vào lãnh địa của Thần Thánh. Mặc dù dạo gần đây càng ít người biết đến nghi thức Torii, nghi thức đúng là chỉ cần cúi đầu chào một lần trước cổng Torii. Ngoài ra, lối đi chính giữa vào đền thần là lối đi được dành riêng cho các vị Thần. Mẹo để tham quan đúng lễ nghi là nên tránh lối đi ở giữa và đi ở 2 bên của đường đi.
Cổng Torii ở Kumamotohongu
2. Rửa thật sạch tay và miệng của bạn tại khu vực “Temizuya”
Khu vực Temizuya gồm một đài phun nước và nhiều gáo múc nước không phải là nơi để uống nước. Đây là nơi để cử hành nghi thức gọi là “Misogi”, một nghi thức để thanh tẩy cơ thể và tâm hồn bằng nước trước khi vào đứng trước các vị Thần. Theo đúng truyền thống thì trước đây người ta phải khỏa thân khi làm nghi thức này tại những địa điểm Misogi đặc biệt như ở biển hay sông, nhưng ngày nay nó đã được đơn giản hóa thành rửa tay và miệng tại Temizuya. Việc này có ý nghĩa là gột rửa đi những ô uế trong tâm hồn bạn cũng như trong cơ thể bạn.
Đầu tiên, cầm gáo nước bằng tay phải và múc nước rửa tay trái.
Tiếp theo, cầm gáo bằng tay trái và rửa tay phải.
Dùng nước đã múc bằng tay trái để súc miệng. Không được chạm muôi trực tiếp vào miệng.
Cuối cùng, dùng hết phần nước còn lại, vẩy muôi xuống cho khô nước.
*Bạn chỉ múc nước lên đúng một lần duy nhất ở bước đầu tiên.
Chỗ rửa tay hình rồng phun nước
3. Khi đứng trước điện thờ thì cúi đầu 2 lần, sau đó vỗ tay hai lần và cúi đầu thêm một lần nữa để cầu nguyện.
Bỏ đồng “Saisen” một cách nhẹ nhàng vào thùng đựng tiền. Đồng Saisen chính là vật tế Thần.
Rung chuông như lời chào đến các vị Thần (nếu không có chuông thì bỏ qua bước này).
Cúi đầu chào 2 lần (cúi 2 lần).
Vỗ tay 2 lần. Việc vỗ tay mang ý nghĩa thể hiện sự vui mừng hay kính trọng. Nó thể hiện niềm vui của bạn khi được gặp các vị thần và cho thấy sự tôn kính của bạn đối với họ (vỗ 2 lần).
Chắp 2 tay lại với nhau, bày tỏ sự biết ơn của mình nhưng chỉ nghĩ trong đầu chứ không nói thành lời.
Cúi đầu chào thêm 1 lần nữa (cúi 1 lần).
*Số lần vỗ tay và cúi đầu chào có thể khác ở một số đền thần.
Chùa
Chùa Nhật Bản không có những nghi thức khắt khe khi tham quan như ở đền thần. Nếu ở chùa có Temizuya thì hãy rửa sạch tay và miệng của bạn giống cách rửa ở đền thần và tiến vào án thờ. Nếu ở chùa có nến hoặc nhang, đặt 1 cây (nến hoặc nhang) vào chỗ quy định sau đó ném đồng xu Saisen tế thần vào và chắp tay khấn trong yên lặng. Không được vỗ tay.
Nhật Bản sắp vào mùa hoa Anh Đào, đây cũng là mùa du lịch Nhật rất tuyệt vời, vì cảnh sắc tuyệt đẹp và khí hậu rất mát mẻ dễ chịu. Bạn hãy đặt tour với AFJ để không bỏ lỡ cơ hội mỗi năm chỉ có một lần nhé.
Hoa anh đào có 3 màu là màu trắng, hồng và đỏ. Thời gian tồn tại của một bông hoa anh đào thường kéo dài trung bình khoảng 1 tuần. Tùy theo từng chủng loại hoa và điều kiện môi trường thời tiết mà tuổi thọ của hoa anh đào khác nhau. Loài hoa Someiyoshino có tuổi thọ 7 ngày kể từ ngày mankai (mãn khai, nở rộ) trong khi loài hoa Kanzakura nở và tàn lâu hơn chừng 10~12 ngày kể từ ngày mankai.
Một số loại anh đào
Hoa anh đào có rất nhiều loại, từ loại hoa mọc dại trên núi cho đến những loại được lai tạo kỳ công để phục vụ nhu cầu thưởng ngoạn của con người. Sau đây là một vài loại hoa tiêu biểu:
Yamazakura
Thường mọc ở phía Nam của Honshū. Nó còn có một tên gọi khác là Bạch Sơn Sakura. Khi hoa nở thì thường có màu trắng hoặc màu hồng nhạt và mùi hương khá đậm. Đặc điểm của loại hoa này là khi hoa nở cũng là lúc lá đâm chồi nảy lộc.
Oyamazakura
Thường mọc ở phía Bắc của Honshū và vùng núi Hokkaido, nó còn có tên gọi khác là Hồng Sơn Sakura (Beniyama Zakura). Loại hoa này có màu hồng đậm hơn, lá và hoa cũng to hơn so với Yamazakura.
Oshimazakura
Oshimazakura có nhiều ở bán đảo Izu. Khi lá đâm chồi nảy lộc cũng là lúc hoa bắt đầu nở và cho mùi hương quyến rũ là đặc trưng của loại hoa này. Khi hết mùa hoa anh đào, người ta thường ngắt lá của loài hoa này ướp một chút muối và dùng để làm vỏ cuốn bên ngoài cơm nắm onigiri hoặc cuốn ngoài một loại bánh dày truyền thống của Nhật. Vì thế loại hoa này mới có tên gọi sakura mochi.
Edohigan
Loại hoa này thường mọc ở vùng núi Honshū, Shikoku và Kyushū. Đặc trưng của loại hoa này là trước khi lá đâm chồi nảy lộc thì những cánh hoa đã vươn mình khoe sắc, chuyển dần từ gam màu trắng sang màu hồng nhạt. Thi thoảng chúng ta bắt gặp đâu đó bên những mặt hồ hay bờ sông có loài hoa rủ xuống yểu điệu, thì đó chính là một trong số những loài hoa này.
Kasumizakura
Kasumizakura mọc rải rác ở các vùng núi từ Hokkaido đến Kyushū. Đặc trưng của loài này là có một lớp lông non bao phủ trên cánh hoa và lá, có lẽ vì thế mà nó có một cái tên khác là Mao Sơn (Keyamazakura). Loại hoa này khi nở cũng chuyển dần từ sắc trắng sang sắc hồng.
Someiyoshino
Là loài hoa pha trộn đặc tính giữa hai loài Oshimazakura và Edohigan. Trên lá non và cánh hoa có lớp lông non bao phủ và khi hoa tàn thì mới là lúc lá đâm chồi nảy lộc. Hoa nở có màu hồng nhạt.
Trong số các loài anh đào thì loại Someiyoshino được trồng nhiều nhất vì loại này hoa lại nở trước rồi mới mọc lá. Cánh hoa cũng to hơn so với các loại khác và nhìn có vẻ đẹp quý phái hơn. Hơn nữa loại hoa này sinh trưởng nhanh, chỉ khoảng 10 năm đã trở thành một cây lớn và cho hoa nở nhanh hơn loại khác. Từ thời kỳ Meiji loại này đã được trồng phổ biến trên khắp nước Nhật.
Các bạn nào đi học đại học ở Nhật, chắc là cũng sẽ ít nhiều có dịp nào dự lễ chào cờ và hát quốc ca của Nhật. Bản quốc ca rất ngắn và đơn sơ nhưng được người Nhật hát với tất cả sự thành tâm và tôn kính. Nhìn khung cảnh ấy cũng khiến người ngoại quốc ít nhiều cảm động.
Bài quốc ca của Nhật gọi là “Kimi ga yo” – Thời đại của người. Lời bài ca có nguồn gốc từ một bài thơ trong tập thơ tên là Cổ Kim Hòa Ca Tập được soạn ra trong thời Heian (794-1185), nội dung như sau:
君が代は 千代に八千代に 細石の 巌となりて 苔の生すまで
Kimi ga yo wa chi-yo ni yachi-yo ni sazare ishi no iwao to narite koke no musu made
Tạm dịch là:
Thời đại của người Trải ngàn đời, trải tám ngàn đời Cho đến khi những viên sỏi kết thành tảng đá rêu phong.
Ban đầu bài thơ này được dùng để chúc thọ, dần dần, nó được dùng để chúc tụng Thiên Hoàng. Đến thời Minh Trị, có một người Nhật đã thử hát nó thành giai điệu rồi nhờ một người Đức viết thành bản ký âm nhạc thất cung như ngày nay. Bài hát này được dùng như quốc ca một cách bán chính thức cho tới tận năm 1999 thì mới được chính thức công nhận thành bài quốc ca trong luật về quốc kỳ và quốc ca của Nhật Bản.
Hai cái nhất thế giới của bài này là: lời cổ nhất và trường độ ngắn nhất trong các bài quốc ca đang lưu hành trên thế giới. Thú vị phải không nào các bạn?
Mùa hè oi bức ở Nhật khá khó chịu, nếu đủ điều kiện, chúng ta có thể chọn đi về Việt Nam chơi hoặc đi đâu đó để du lịch. Nếu muốn tắm biển và tận hưởng khí hậu nhiệt đới mà vẫn ở trong nước Nhật, thì Okinawa chính là nơi lý tưởng nhất. Bạn sẽ thấy lại được hoa sứ, thấy hoa râm bụt, thấy cây chuối xanh tốt… và tưởng như đang ở Việt Nam.
Ngày xưa Okinawa không phải nước Nhật, đó là vương quốc Lewchew, tuy nhân chủng của họ gần với người Nhật nhưng văn minh của họ thì lại gần với văn minh Nho giáo của lục địa hơn.
Đầu thế kỷ 17, lãnh chúa của Kagoshima đã dong thuyền ra khơi để đánh Lewchew và bắt họ thần phục, nộp vàng bạc và vật quý giá hàng năm, thiết lập quan hệ triều cống cho phía Nhật Bản.
Cứ như thế được hai trăm năm, đến thế kỷ 19 dưới thời Minh Trị, Nhật Bản chính thức sáp nhập Lewchew vào lãnh thổ của mình, và gọi vùng hải đảo rộng lớn này là phiên Okinawa. Thêm 6 năm nữa, chính phủ Nhật chính thức lập Okinawa thành tỉnh và đặt tỉnh trưởng để cai trị đến năm 1945. Nơi này như trạm trung chuyển quân sự để Nhật đánh xuống Đông Nam Á.
Sau đó, vì Nhật thua trận trong thế chiến thứ hai, nên quần đảo Okinawa phải đưa cho phe thắng trận kiểm soát. Và nước đóng quân ở đây là Mỹ. Đến năm 1972, Mỹ trả Okinawa lại cho chính phủ Nhật cho đến ngày nay.
Okinawa là một tập hợp hơn 1000 đảo lớn nhỏ, trải dài trên phạm vi rất rộng lớn, khí hậu gần như cận nhiệt đới với thiên nhiên đa dạng và cây cối tươi tốt quanh năm. Đặc biệt là biển ở Okinawa cực kì đẹp và trong, không như những vùng biển ở các nơi khác của Nhật.
Okinawa có tục lệ uống rượu rất giống Việt Nam, mọi người trên mâm cùng uống bằng một cái ly nhỏ duy nhất được rót xoay vòng. Những bà chị bà cô bán hàng ở chợ có thể cho bạn đồ ăn mà chẳng cần lý do gì, chỉ cần họ thấy thích. Mọi người xã giao với nhau nồng ấm hơn người Nhật ở đảo Honsu rất nhiều.
Nếu có dịp, hãy đi chơi Okinawa mùa hè này bạn nhé! ^^