SUSHI – QUỐC HỒN QUỐC TÚY CỦA ẨM THỰC NHẬT

Sushi (すし, 寿司, 鮨, 鮓, 寿斗, 寿し, 壽司?) là một món ăn Nhật Bản gồm cơm trộn giấm (shari) kết hợp với các nguyên liệu khác (neta). Neta và hình thức trình bày sushi rất đa dạng, nhưng nguyên liệu chính mà tất cả các loại sushi đều có là shariNeta phổ biến nhất là hải sản, thịt sống cắt lát, gọi riêng là sashimi.

Trước cuộc Duy Tân năm 1868, người Nhật theo quan điểm Phật giáo, không ăn loài bốn chân nhưng chỉ ăn cá và gà… Chính vì cá là thực phẩm chính, nên cách làm có thiên biến vạn hóa. Vào thời đại Heian, trong sách Diên Hỉ Thức (xuất bản năm 927 SCN) đã có nói về món Narezushi là cá ướp muối trộn cơm cho lên men. Trải qua ngàn năm, văn hóa trau dồi, cách ăn nết ở cũng đổi thay, cách làm sushi và cách ăn sashimi cũng theo đó mà biến chuyển thêm nhiều thể thức như ngày hôm nay, muối được thay bằng giấm, lên men được thay bằng ăn tươi chấm nước tương và wasabi.

Naresushi ngày nay

Tên gọi sushi cũng có thuyết nói rằng, vào thời đại Giang Hộ, vị của món ăn này gần giống giấm 酸し (sushi) nên tên gọi đã hình thành từ đó. Đây là thuyết được chấp nhận rộng rãi tới ngày hôm nay. Cách viết 寿司 là để biểu âm chứ không có ý nghĩa.

Phân loại

Có nhiều loại sushi, tùy theo cách chế biến. Phần cơm trộn giấm gọi là sumeshi, phần thịt cá để bên trên gọi là neta.

  • Loại thứ nhất là sushi nắm, gọi là nigirizushi. Cơm sumeshi được đắp lên bằng một miếng Neta. Ở giữa thường có một chút wasabi. Phía trên miếng neta có thể có một chút gừng xay nhuyễn hoặc vài hạt hành xanh bào nhỏ. Loại này phổ biến nhất.
  • Loại thứ hai là sushi cuộn, gọi là makizushi được cuốn như các đồ ăn cuốn của Việt Nam, nhưng bên ngoài là lớp rong biển nori sấy khô; được tẩm muối và dầu mè.Thành phần bao gồm cơm, dầu vừng, muối, hạt vừng, một lượng nhỏ giấm và đường thường được thêm vào làm gia vị. Nguyên liệu được đặt trên một miếng rong biển khô. Cơm trộn giấm chua ngọt được phết lên miếng rong biển. Các thành phần khác như hải sản tươi sống, trứng chiên, cà-rốt, giăm-bông, thịt bò băm viên tẩm gia vị hoặc bánh cá (loại bánh làm từ cá và rau quả, phổ biến nhất là khoai tây) tẩm gia vị, củ cải ngâm, rau bina tẩm gia vị,cá ngừ,tôm hấp và dưa leo được đặt lên cơm, sau đó cuộn lại. Có lúc, người ta còn cho cuộn makizushi lăn qua trứng, bột chiên xù cho giòn, gọi là Tempura Makizushi. Khi ăn chấm nước tương, cũng có thể là mayonnaise hay nước sốt cà chua. Makizushi xưa được cắt đều làm 6 khoanh, ngày nay người ta có thể được cắt thành 12 khoanh hoặc hơn.
  • Loại thứ ba là sushi gói như bánh, gọi là oshisushi.
  • Loại thứ tư là sushi lên men, gọi là narezushi. Sushi ủ trong một thời gian dài cho lên men.
  • Loại thứ năm là sushi rán, gọi là inarizushi.
  • Loại cuối cùng là temaki, cuốn như hình nón.

Mỗi địa phương ở Nhật Bản lại có những nét riêng trong chế biến sushi. Có loại sushi không được làm từ hải sản và cũng không có sumeshi, mà lại là trứng trộn đường rán lên. Có loại sushi cuộn mà bên trong có natto, một loại đậu tương ủ lên men nổi tiếng của Nhật Bản.

Sushi thường được chấm với wasabi hoặc nước tương rồi thưởng thức.

Sushi băng chuyền

Đây là hình thức quán sushi chưa lâu đời nhưng lại được sự yêu mến của người Nhật rất nhiều. Vì thể loại sushi phong phú, giá cả phải chăng và nhanh chóng mà không cần phiền nhiều đến nhân viên phục vụ.

Quang cảnh trong một quán sushi băng chuyền

Thực khách thích ăn gì có thể tự lấy, trường hợp không có món mình muốn ăn có thể đặt qua màn hình. Nhưng cần lưu ý là khi đã lấy một đĩa sushi ra khỏi băng thì sẽ không được để trả lại vào. Người Nhật thích kaitensushi vì giá cả thường rẻ. Người nước ngoài thích kaitensushi còn vì có thể lựa chọn được thứ mình thích mà không cần biết tiếng Nhật.

Một số hình ảnh đẹp mắt về món sushi:

コメントを残す

以下に詳細を記入するか、アイコンをクリックしてログインしてください。

WordPress.com ロゴ

WordPress.com アカウントを使ってコメントしています。 ログアウト /  変更 )

Google フォト

Google アカウントを使ってコメントしています。 ログアウト /  変更 )

Twitter 画像

Twitter アカウントを使ってコメントしています。 ログアウト /  変更 )

Facebook の写真

Facebook アカウントを使ってコメントしています。 ログアウト /  変更 )

%s と連携中